Nguyễn Du

Loading...

Nguyễn Du viết về Hàn Tín

Hàn Tín là một nhân vật lịch sử Trung Quốc, được người đời  các nước ÁĐông bàn luận nhiều nhất. Hàn Tín đem tài trí giúp Lưu Bang thu đoạt thiên hạ. Một  vị Nguyên soái mưu trí bách chiến bách thắng, đánh bại Hạng Vũ, bậc anh hùng sức mạnh vô song,  không ai không bảo Hàn Tín  là một nhân tài. Nhưng người thì biện luận Hàn Tín là bậc anh hùng, kẻ thì gọi là bậc cơ xảo. Làm nên cơ nghiệp cho Hán Cao Tổ nhưng khi thành công rồi thì bị vu cáo làm phản, tội danh vu vơ, bị giáng chức, bị Lưu Bang mượn tay  vợLã Hậu  giết cả ba họ, bị xẻ thịt cho chóăn. Mọi người đều  ngậm ngùi cho số phận bi thảm của Hàn Tín và các công thần gầy  dựng nhà Hán.
 
Nguyễn Du có hai bài thơ viết về Hàn Tín, Lê QuýĐôn cũng viết một bài, vua Trần Anh Tông cũng nói về Hàn Tín. Ta thử tìm xem các bậc thi hào nước ta luận bàn thế nào về nhân vật Hàn Tín.
 
Nguyễn Du trên đường đi sứ qua sông Hoài, có viết  bài thơ Qua sông Hoài nhớ Hoài Âm Hầu. Sông Hoài  là sông  lớn thứ ba  của Trung Quốc dài 1078 km. Sông Hoài và dãy núi Tần Lĩnh  được xem làđịa giới tự nhiên  Hoa Bắc, Hoa Nam. Phát nguyên từ tỉnh Hà Nam, chảy qua phía bắc thành Tín Dương, chảy vào tỉnh An Huy và đổ vào Dương Tử Giang  . Hoài Âm Hầu  tước cuối cùng của Hàn Tín,  vì có người tố cáo Tín làm phản, Hán Cao Tổ, lập mưu đi chơi đất Vân Mộng, ghé thăm bắt Hàn Tín, bỏ tù rồi lại tha,  giáng  xuống hai cấp từ Sở Vương xuống còn tước hầu. Lữ Hậu về sau nhân loạn Trần Hy, vu cáo  bắt Hàn Tín giết cả ba họ..  
 
Hàn Tín đầu quân Sở Vương được Phạm Tăng tiến cử cho Hạng Vũ, nhưng Hạng Vũ xem thường chỉ phong làm Chấp kích lang, chức vác kích theo hầu, Hàn Tín có dâng điều trần mấy lần nhưng không được dùng. Hàn Tín bỏ Sở về Hán được Hạ Hầu Anh, Tiêu Hà, Trương Lương tiến cử, lúc đầu Lưu Bang nghi ngại  chỉ dùng vào chức Liên Ngao coi kho, sau đó chức Tri túc Đôúy  giữ nhiệm vụ thuế vụ, tài chánh, Hàn Tín làm tròn nhiệm vụ xuất sắc, nhưng vẫn thấy chưa xứng đáng tài năng ông  lập mưu  bỏđi, Tiêu Hàđuổi theo rước về, lại tiến cử Lưu Bang mới  dùng làm Nguyên Soái. Tín lập nhiều công trạng, đánh bại Sở Bá Vương, thống nhất Trung Quốc. Hán Cao Tổđưa Hàn Tín vào hàng đệ nhất công thần cùng với Trương Lương và Tiêu Hà gọi là Tam Kiệt. Được phong làm Tề Vương rồi Sở Vương.
 
Lúc trẻ Hàn Tín đi câu cá dưới thành, bữa no bữa đói gặp bà Phiếu  Mẫu (Xiếu Mẫu) cho ăn bữa cơm. Lúc làm Sở Vương, Tín vời Phiếu Mẫu tới đền ơn nghìn vàng. Hàn Tín có nói : « Vua Hán trao ấn Nguyên soái cho ta, cấp cho mấy vạn quân, cởi áo cho mặc, nhường cơm cho ăn, ta nói điều gì vua đều nghe, bàn kế gì vua đều dùng , nên ta mới được thế này ». Câu thơ này nhắc lại lời Hàn Tín. Câu thơ có hai nghĩa, ân nghĩa nhà vua Lưu Bang thật thâm sâu, nhưng cũng có nghĩa là thật thâm hiểm, khi cần thì nhường cơm sẻáo, khi đạt được cơ đồ thì ra tay diệt trừ không thương tiếc..Hiểu nghĩa là thâm hiểm, mạch văn thông suốt với câu sau « treo cung giết chó ». Câu nói của Phạm Lãi trong Sử Ký  Tư Mã Thiên. Việt Vương Câu Tiễn : « Phi điểu tận lương cung tàng, giáo thỏ tử, tu cẩu phanh ». Chim bay hết thì cung tốt bị giấu đi, thỏ chết thì chó săn bị làm thịt. Nói về Câu Tiễn có tướng khi gian khổ thì cùng nhau, khi thành công thì giết hại công thần Văn Chủng. Phạm Lãi biết trước khi thành công, từ quan đi ngao du Ngũ Hồ. Các ông vua dựng nghiệp thời quân chủ, khi thành tựu sự nghiệp thường sợ, nghi ngờ các công thần tài cao hơn mình, không trung thành sẽ cướp ngôi vua, nên ra tay trước. Hàn Tín trong cảnh này. Tương truyền khi Hàn Tín bị tru di tam tộc, hai người bạn là Tiêu Hà và Khoái Triệt giấu nàng hầu của Hàn Tín đang có mang trong rừng núi khe động phương nam, sau này họ Hàn mới còn nòi giống nhưng đổi thành họ Vi tức một nửa chữ Hàn. Nhà thơ Vi Thùy Linh có lẽ là dòng dõi Hàn Tín lẫn trốn trong khe động Bách Việt.  Núi sông hai nhà Hán, Đông Hán và Tây Hán đã thay đổi với thời gian xưa nay. Qua bến sông Nguyễn Du ngậm ngùi nhớ lại việc cũ. Mây trôi tan tác, cỏúa tàn bao trùm đất Hoài Âm tỉnh Giang Tô.
 
QUA SÔNG  HOÀI  NHỚ  HOÀI  ÂM  HẦU
 
Ngàn vàng báo đáp bữa thanh bần,
 
Tôi chúa năm năm thật hiểm thâm.
 
Sẻ áo nhường cơm ơn đức bạc,
 
Treo cung  giết chó nỡ đành tâm.
 
Bách Man  khe động  lưu  con cháu,
 
Lưỡng Hán cơ đồ chuyện cổ kim.
 
Qua bến ngậm ngùi ôn chuyện cũ,
 
Mây tan, cỏ úa đất Hoài Âm.
 
Nhất Uyên dịch thơ
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
ĐỘ  HOÀI  HỮU  CẢM  HOÀI ÂM   HẦU
 
Tầm thường nhất phạn báo thiên  câm (kim),
 
Ngũ tải quân thần phận nghị thâm.
 
Thôi thực, giải y nan bội đức,
 
Tàn cung phanh cẩu diệc cam tâm.
 
Bách man khê động lưu miêu duệ,
 
Lưỡng Hán sơn hà biến cổ câm (kim)
 
Trù trướng giang đầu tư vãng sự,
 
Đoạn vân suy thảo mãn Hoài Âm.
Nguyễn Du đi qua nơi Hàn Tín luyện quân, chua xót cho thân phận Hàn Tín: Trăm vạn cờ xí vượt sông Hoàng Hà lên phía bắc, Dưới đất Yên còn có gươm , giáo chôn vùi. Việc đã xa xôi trải qua hai ngàn năm. Còn ở bên thành một bãi cát bồi mênh mông. Cùng hàng với bọn Phàn Khoái.Phàn Khoái anh em bạn rể với Lưu Bang, là tướng tiên phong của Hàn Tín. Sau bị giáng từ Sở Vương xuống làm Hoài Âm Hầu do sự nghi kỵ của Lưu Bang. Hàn Tín oán giận bực bội mình ngang hàng với Chu Bột, Quán Anh. Tín qua chơi nhà tướng quân Phàn Khoái. Khoái quỳ lạy và tiễn ra cửa, xưng là thần và nói “Đại Vương lại chịu quá bộ đến nhà thần sao ?. Tín cười mà rằng: “Ta nay hóa ra ngang hàng với bọn Khoái.” (Sử Ký).  Trước mặt vua Hán Cao Tổ, hỏi về tài năng các tướng. Cao Tổ hỏi “Như ta có thể cầm được bao nhiêu quân ?”. Tín đáp: “Bệ hạ chẳng qua chỉ cầm được mười vạn.”. Hỏi: “ Thế còn nhà ngươi cầm được bao nhiêu ?” “Thần thì càng nhiều quân càng tốt.” Lúc bắt Tín, Cao Tổ cười nói: “Càng nhiều càng tốt sao lại bị ta bắt ?” Hàn Tín đáp: “Bệ hạ không thể cầm quân; nhưng giỏi chỉ huy các tướng, vì vậy nên Tín mới bị bệ hạ bắt..” (Sử Ký Tư Mã Thiên)  Khá thương cho ông, phụng sự sơn hà Hán Quốc trải qua mười năm . Nhưng lời thề đền đáp hậu hỉcho công thần của Hán Cao Tổ chỉ có bọn Giáng, Quán(Chu Bột, Quán Anh) được hưởng mà thôi.
CHỔ HÀN TÍN LUYệN QUÂN
 
Vượt bắc Hoàng Hà trăm vạn kỳ,
 
Ngoài thành Yên cũ giáo gươm vùi.
 
Hai ngàn năm thoáng xa xôi quá,
 
Một dãi bên thành cát sóng  bồi.
 
Với Khoái cùng hàng đành cam phận,
 
Nhiều quân càng tốt vẫn khoe tài.
 
Khá thương cơ nghiệp mười năm Hán,
 
Giáng, Quán  đáp đền được hưởng thôi.
 
Nhất Uyên dịch thơ
 
Nguyên tắc phiên âm Hán Việt:
 
HÀN TÍN  GIẢNG  BINH  XỨ
 
Bách vạn tinh huy bắc độ Hà,
 
Yên giao địa hạ hữu trầm qua.
 
Du du sự hậu nhị thiên tải,
 
Đãng đãng thành biên nhất phiến sa.
 
Khoái ngũ vị thành cam lục lục,
 
Quân tiền do tự thiên đa đa.
 
Khả liên thập thế sơn hà tại,
 
Hậu thệ đồ diên Giáng, Quán gia.
 
LÊ QUÝĐÔN  (1726-1784) người làng Diên Hà, huyện Diên Hà Trấn Sơn Nam ( Nay là thôn Phú Hiến, huện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) 17 tuổi đỗ Giải Nguyên thi Hương, 26 tuổi đỗ Hội Nguyên và thi Đình đỗ Bảng Nhãn(đệ nhất giáp tiến sĩ, khoa này không lấy Trạng Nguyên) được giao nhiều trọng trách trong triều ngoài trấn. Ông là một nhà Bách Khoa nước ta để lại gần 40 bộ sách.
 
Đi sứ Trung Quốc, qua Hoài An ông có thăm đài câu cá của Hoài Âm Hầu Hàn Tín, lúc còn hàn vi. Ông viết: Nghe nói đó là nơi câu cá xưa kia của Hàn Hầu. Nghĩ đến chuyện cũ lòng cảm khái bèn tìm đến  Hoài An, gần huyện Hoài Âm, tỉnh Giang Tô, là đất phong của Hàn Tín, cũng là quê hương Hàn Tín. Nơi đây khi còn hàn vi ông từng câu cá để mưu sinh. Người đời sau có dựng một cái đài nhỏ để ghi nhớ dấu tích. Trời đất mênh mang người anh hùng xa khuất. Sông núi lờ mờ lời thề xưa đã nguội lạnh.  Khi phong tước công hầu cho các công thần vua Hán Cao Tổ cóđọc lời thề: “Dù cho sông Hoàng Hà cạn đi chỉ còn như cái đai áo, núi Thái Sơn mòn đi chỉ còn như hòn đá mài, thì đất phong vẫn còn đó, để lại cho con cháu muôn đời sau.” Thế mà vài năm sau, Hàn Tín bị giết tru di tam tộc, tài sản đất phong đều bị tịch thu, nhờ bạn bè che chỡ, còn sót một người vợ lẽ mang thai sinh con trai phải lẫn trốn về khe ộng phương Nam, phải đổi họ Vi, mới còn giòng giống.. Du khách vô tình ca bài “Kích trúc “ gõ vào trúc mà hát, trúc là một nhạc khí thời cổ. Thời Chiến Quốc, khi tiễn Kinh Kha sang Tần hành thích vua Tần Thủy Hoàng, Cao Tiệm Ly gõ trúc, Kinh Kha hát hòa theo “Tráng sĩ một đi không trở lại “ sau đó qua sông Dịch. Việc hành thích không thành,đúng như lời Kinh Kha hát. Lê QuýĐôn dùng hai chữ“kích trúc” để gợi lên số phận bi thảm của Hàn Tín. Tướng quân hối hận đã lên đài nhận ấn phong hầu. Khi Hàn Tín bị buộc tội mưu phản, rồi tru di tam tộc. Hàn Tín hối hận khi xưa đã lên đài nhận tước phong, coi đó là bước đầu để gánh chịu nhữngtai họa sau này.. Những kẻở đất Nam Xương hay Tứ Thượng đều làđình trưởng. Khi còn hàn vi Hàn Tín phải nương nhờ một tên đình trưởng. Trung  Quốc ngày xưa trên đường cái quan cứ 10 dặm có một cái đình lớn gọi là trường đình, 5 dặm có một cái đình nhỏ làđoãn đình, trên bến sông có giang đình. Mỗi đình, có nơi nghỉ ngơi, có vài người phu trạm, nuôi năm ba con ngựa, cóống lò để đốt khói phân chồn làm ám hiệu, bình thường công việc   chạy công văn, giấy tờ, hay hiệu lệnh, truyền hịch các quan sai xuống;  phu trạm mang công văn đến trạm tới,  thìtrạm ấyđình trưởng cho phi ngựa chạy tiếp.Đình trưởng còn coi cả việc canh phòng, bắt cướp vặt, bảo đảm an toàn đoạn đường mình phụ trách.Ở bến sông, thì giang đình có vài chiếc thuyền đểđưa công văn hay đưa quan chức qua sông. Người chỉ huy trường đình hay giang đình được gọi làđình trưởng. Người đình trưởng giang đình sông Ô Giang đãđón Hạng Vũ, đưa qua sông, là người có thuyền duy nhất nơi này. Nếu Hạng Vũ qua sông thì sẽ thoát về Giang Đông  vì quân Hán đuổi theo không có thuyền khác để qua sông; thế mà Hạng Vũ  không qua để mang danh, danh tướng bại trận,  ông tự tử.  Khi cơ hàn, Hàn Tín nương nhờ một đình trưởngở đất Nam Xương, tên này đối xử với Hàn Tín rất khắc bạc. Về sau Hàn Tín giúp Lưu Bang làm nên nghiệp lớn thành vua Hán Cao Tổ. Lưu Bang cũng vốn xuất thân làmột đình trường đất Bái (tức Tứ Thượng hoặc Tứ Thủy, còn gọi là Bái Thượng) ở phía Đông huyện Bái, tỉnh Giang Tô. Kết cuộc Lưu Bang cũng đối xử với Hàn Tín bạc bẽo không kém. Bị  tố giác chứa chấp bạn là  tướng Sở, Chung Ly Muội. Hàn Tín chặt đầu Chung Ly Muội dâng vua Hán. Hán Cao Tổ lại giả vờđi chơi  đầm Vân Mộng đến thăm bất ngờ rồi sai võ sĩ bắt Hàn Tín, bỏ vào cũi cho theo sau xe vua. Nếu Hàn Tín có tội ắt  là Lưu Bang phải giết ngay, đằng này Hàn Tín vô tộinên Lưu Bang mới ban lệnh đại xá thiên hạvà giáng Hàn Tín từ tước vương còn tước hầu.  Sau đó lại mượn tay Lã Hậulại vu oan cấu kết với Trần Hy và tru di tam tộc.
 
Ở HOÀI AN THĂM ĐÀI CÂU CÁ HOÀI ÂM HẦU
 
Rằng chốn Hàn Hầu câu cá đài,
 
Hoài An chuyện cũ lòng u hoài.
 
Mênh mang trời đất, anh hùng khuất,
 
Mù mịt núi sông, thề ước phai.
 
Du tử vô tình ca “kích trúc”,
 
Tướng quân hối hận nhận  phong bài.
 
Nam Xương, Tứ Thượng đều đình trưởng,
 
Bạc bẽo một phường cả, hỡi ôi.
 
Nhất Uyên dịch thơ
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
TRÚ HOÀI AN PHỎNG HOÀI ÂM HẦU ĐIẾU ĐÀI.
 
Văn thuyết Hàn hầu cựu điếu than,
 
Tiêu nhiên cảm cố vấn Hoài An.
 
Kiền khôn không thoát anh hùng viễn,
 
Sơn thủy vi mang tín thệ hàn.
 
Du tử vô tình ca kích trúc,
 
Tướng quân hữu hận hối  đăng đàn,
 
Nam Xương, Tứ Thượng giai đình trưởng,
 
Yếm bạckhông ta tổng nhất ban.
 
Thuở  hàn vi, Hàn Tín câu cá không đủ nuôi thân bà phiếu mẫu cho cơm ăn, đã là một điều hổ thẹn cho một thanh niên, nhưng vác một thanh gươm mà chịu chui qua háng một anh hàng thịt giữa chợ, thật là một điều sĩ nhục, xưa nay chẳng có bậc anh hùng nào làm như Hàn Tín cả . Trong  Thủy Hử, các anh hùng  Lương Sơn Bạc gặp trường hợp như thế, thì giết chết kẻ thách mình và trốn lên núi thành cướp núi, để tránh quan quân truy nả. Hàn Tín lúc đem thân làm tôi cho Hạng Vũ, nhận chức Chấp Kích lang, người vác kích theo hầu. Bỏ Sở về Hán Lưu Bang cho chức  Liên Ngao, chức Tri túc Đôúy cũng không hề mặc cảm, vui vẻ làm tròn nhiệm vụ. Có thể nói Hàn Tín có một sức chịu đựng nhẫn nại tuyệt độ, hơn cả người bình thường. Không thấy nói Hàn Tín học với ai, đọc được sách binh thư nào, nhưng qua cách dùng bình ta thấy Hàn Tín thuộc lào sách Lục Thao, Tam Lược,  Binh Thư của Tôn Vũ, ” không  cần nhìn vào sách ngồi đọc một lược không sai sót một chữ nào Lại đem nhâm , cầm, độn giáp ra nói, miệng như nước chảy mây trôi, chẳng bao giờ dứt”.
 
Hàn Tín có những sáng tạo riêng  mưu lược của mình, trong lời nói với  Thừa Tướng Tiêu Hà ¨Hán Sở Tranh Hùng tr 157:
“Tiêu Hà hỏi:
 
- Nước nhà an nguy, quân cơ lợi hại đều do người làm tướng cả, vậy hiền sĩ cho biết đạo làm tướng phải thế nào ?
 
-Bẩm Thừa tướng, Đạo làm tướng trước trước nhất phải có năm tài và tránh mười lỗi: Năm tài là: Trí, Nhân, Tín, Dũng, Trung. Trí thì biết cẩn thận, Nhân thì biết thương người, Tín thì không sai hẹn, Dũng thì không ai dám phạm, Trung thì không ở hai lòng. Còn mười điều lỗi: một là cậy cái dũng khinh thân mình, hai là gặp việc gấp thì nóng nảy, thiếu cẩn thận, ba là gặp lợi thì ham, bốn là vì lòngnhân không dám giết người, năm làỷ lại sức mình không biết lo xa, sáu làtin mà không phòng, bảy là không chịu thu thập ý kiến mọi người, tám là việc đáng gấp mà do dự, chín là thiên vị thiếu công bằng, mười là lười biếng, chỉ muốn sai người. Nếu cóđủ năm tài và tránh được mười lỗi ấy tất là tướng giỏi.
 
Tiêu Hà hỏi: - Hiền sĩ xem các tướng bây giờ thế nào ?
 
Hàn Tín đáp: - Nếu Tín tôi làm tướng thì khác hẳn các tướng thời bây giờ. Tất cả đều theo như binh pháp, lấy văn mà dùng, lấy vũ màđịnh, động thì phát, tĩnh thì giữ. Lúc binh chưa ra thì tĩnh như núi Thái Sơn, lúc binh đã ra thì cuồn cuộn như nước sông Hoàng Hà, biến hóa như trời đất, hiệu lệnh như lôi đình. Mất có thể làm còn, yếu có thể làm mạnh, nguy có thể làm an được, cơ biến không biết đâu mà lường, quyết thắng từ ngoài nghìn dậm, binh uy không để một kẻ nào dòm ngó nỗi, muôn vạn quân, trăm nghìn tướng không chỗ nào sai lầm. Lấy Nhân mà dùng, lấy Lễ mà dạy, lấy Dũng mà khiến, lấy Tín mà thờ. Cái lối làm tướng như thế. Thừa tướng bằng lòng chăng ?
 
Tiêu Hà thấy Hàn Tín ứng đối như nước chảy, trí tuệ thông suốt, tấm tắc khen thầm và tự nghĩ:
 
Hán  Vương được người này thật là phúc lớn.” Cái chức Phá SởĐại Nguyên Soái trừ Tín ra không còn ai hơn nữa.”
 
Hàn Tín dùng sách binh thư, một cách sáng tạo: Binh pháp viết : bày trận dựa lưng bờ sông không đường lui, là việc tối kỵ. Nhưng Hàn Tín  cũng dựa vào binh pháp: Đưa vào chổ chết thì mới sông, đặt vào chổ mất thì mới còn. Hàn Tín quân tinh nhuệ, đóng ở bờ sông thì quân này chỉ có một đường sống là phải đánh để thắng trận. Rồi thừa cơ quân Triệu kéo hết lực lượng đến đánh, Hàn Tín chohai nghìn quân kỵ bố trí trong đêm tối lẻn vào trại quân Triệu cắm toàn cờ Hán. Quân Triệu đang đánh với quân Hán, nhìn lại thấy dinh trại mình đều cóđịch kỳ, ngỡ là quân Hán đã phá được Triệu, mạnh ai nấy bỏ chạy.Thế là quân Triệu  hổn loạn, đại bại, vua Triệu bị bắt sống.
 
Trong lịch sử Trung Quốc, Hàn Tín được xem là một Nguyên soái chỉ huy tài ba nhất. Từ việc nhỏ đến việc lớn, ông đều là người xuất sắc:
 
Khi làm chức Liên ngao, coi kho kiểm điểm thóc lúa, tính toán sổ sách, mau lẹ phi thường, không sai một mảy. Những người cai kho thấy Hàn Tín tính toán minh bạch đều sụp lạy thưa: Từ khi có kho đến nay, chúng tôi chưa thấy ai thần toán như ngài. Hàn Tín cho Tiêu Hà biết: Phép toán có nhiều lối, có số tiểu cửu, có sốđại cửu. Nếu tinh tường các phép ấy thì dầu bốn bể năm châu cũng chỉở trong bàn tính đó. Trước kia vua Phục Hy chỉ có 61 quẻ, mà thiên biến vạn hóa, việc vũ trụ không thoát ra ngoài các quẻấy được.
 
Khi giữ chức Tri túc ĐôÚy coi sổ sách lương tiền, thu nộp chi phí. Khi trước những quan ĐôÚy đến nhận chức, hay ăn lễ các người nhà kho, nên chúng bảo thế nào thì nghe thếấy, dân tình thán oán, mất lẽ công bằng. Nay Hàn Tín đến, trước hết ra giấy yết thị, tra xét những kẻ nhũng lạm trước kia, cách chức tất cả, rồi đưa vào những người đứng đắn, vì vậy trăm họ hoan hỉ, tranh nhau nộp thuế. Chỉ trong nửa tháng mà thuế khóa nộp hết không thiếu một đồng tiền nào.
 
Hàn Tín khi gặp Tiêu Hàđã tỏ ra là một người đi tìm danh vọng, Thừa tướng Tiêu Hà tiếp đón chưa phải lễông toan bỏđi:  “Tôi vào tiếp Thừa tướng với ý nghĩa cao xa, chứđâu phải vì bả vinh hoa, đem thân quy lụy ? “  Hàn Tín  nhẫn nhục đến tận cùng, khi chưa tìm ra kẻ dùng mình. Nhưng khi chiếm nước Tề, Hàn Tín đã xin phong làm Tề Vương, khiến cho Lưu Bang nổi giận, như thế Hàn Tín đã không khéo trong cách cư xử làm lộ ra chân tướng:  Hàn Tín mưu tìm chức tước, đất phong, giàu sang danh vọng cũng như bao người đời chứ không vì lợi ích của nhân dân, đánh đổ nhà Tần tàn bạo, ủng hộ một vị vua nhân đức lên ngôi mang lại ấm no thịnh trị cho dân chúng.
 
Hàn Tín đem thân phò Hạng Vũ, được Phạm Tăng thấy tài năng, Hàn Tín cũng đã nhiều lần dâng thưđiều trần nhưng Hạng Vũ không nghe, không đểý đến. Cái uy tín  của một anh chàng luồn trôn giữa chợ, cái quá khứ một anh chàng cù bơ cù bất, không nuôi nổi bản thân, đã làm hại Hàn Tín, khiến cho lời nói Hàn Tín bị coi không ra gì !  Nếu Hàn Tín sống đời nay, cũng không ai dám đưa Hàn Tín  một anh chàng thất nghiệp, không bằng cấp địa vị, lên làm Cố vấn Thủ Tướng chính phủ, thì nói gì đến Nguyên Soái chỉ huy toàn quân đội.
 
Phạm Tăng  quân sư của Hạng Vũ. Trương Lương, Hạ Hầu Anh, Tiêu Hà quân sư của Lưu Bang là những vị quan sát hạch thấy được tài năng vàý chí của Hàn Tín.
 
Hàn Tín đã chứng minh tài năng mình như lời nói với Đằng Công Hạ Hầu Anh: “Văn võ song toàn,thông hiểu vũ trụ, ra tướng vũ, vào tướng văn, trăm trận trăm thắng, lấy thiên hạ như trở bàn tay, đủ sức phá Sở Nguyên Nhung..”
 
Hàn Tín qua sông phá được quân Chương Hàm, bắt Ngụy Vương, giết Hạ Duyệt, phá quân Triệu chiếm được Quan Trung. Hàn Tín bách chiến, bách thắng, mưu lược có thừa. Hàn Tín dùng bao cát ngăn sông Bạch Thủy cho nước ngập thành Phế Khâu, phá quân Chương Hàm.  Hàn Tín lợi dụng trận thủy bối, dồn sinh mạng tướng sĩHán  vào thế bí, để cho tướng sĩ vì bảo vệ sinh mạng và thắng địch quân, phá hai mươi vạn quân Triệu,Hàn Tín chế ra chiến xa gỗ vây kín Hạng Vương..  thật là mưu trí hơn người..  Tuy nhiên Hàn Tín đã phản Lịch Sinh làm Lịch Sinh bị vất vào vạc dầu, ép Hán Vương phong mình làm Tề Vương, Hàn Tín đã biểu lộ tham vọng quyền hành rõ rệt từ lúc đó. Hàn Tín chỉ là một vị Nguyên soái chỉ huy, mưu tríđánh giặc  tài giỏi, nhưng về mưu thuật chính trị, Hàn Tín tỏ ra thua kém Lưu Bang, Lưu Bang chỉ dùng chức tước quyền lực đã thoả mãn tham vọng chinh phục được  Hàn Tín, cho nên Hàn Tín khi làm Tề Vương  không nghe lời Khoái Kiệt chia ba thiên hạ. Nếu không  thì không chắc gì Lưu Bang có thể thắng, Lưu Bang không nghe lời Trương Lương, Hàn Tín, dùng Ngụy Báo làm Nguyên Soái kết cuộc đại bại thảm hại suýt chết. Không có Hàn Tín, Hạng Vũ không bị Lưu Bang đánh bại. Hán Vương nổi giận khi nghe Hàn Tín đòi phong làm Tề Vương, nhưng sớm nghe lời Trương Lương vì biết rằng chỉ có Hàn Tín mới diệt nổi Hạng Vũ. Không có Hàn Tín, Lưu Bang không đủ tài đểđưa Hạng Vũ vào thế cùng. Cái khôn khéo của Trương Lương biết Hàn Tín là kẻ ham danh vọng, phải ban cho Hàn Tín đầy đủ danh vọng thoả mãn lòng khao khát của Hàn Tín, tất Hàn Tín không đòi hỏi nữa mà trung thành với nhà Hán.
 
Nhiều người phê phán Lưu Bang là vị vua xảo trá nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cái chết của Hàn Tín, chỉ nằm trong danh sách dài các công thần bị  Lưu Bang Hán Cao Tổ giết:  Hàn Vương Tín (dòng dõi vua Hàn, trùng tên họ với Hàn Tín), Lương Vương Bành Việt, Hoài Nam Vương Anh Bố, Yên Vương Tang Đồ, Yên Vương Lư Quán, Triệu Vương Trương Ngao, Trần Hy..           Lê QuýĐôn phê phán Lưu Bang là một anh đình trưởng bội bạc, chẳng kém gì anh đình trưởng Nam Xương. Cái tội của Hàn Tín là lập nên công trạng quá to, lấn áp cảông vua  Hán Cao Tổ, khiên ông ăn ngủ không yên.  Hàn Tín chưa phản bội, nhưng Lưu Bang  đã lo lắng  cách chi chống lại. Những tội gán cho Hàn Tín, không có bằng cớ gì rõ ràng, nếu có tội cớ gì bắt Hàn Tín trói bỏ vào cũi tù rồi giả vờđại xá thiên hạ, rồi lại tha giáng còn tước hầu. Lưu Bang chỉ vì đề phòng đã phải tước dần quyền lực Hàn Tín. Từ Tề Vương một nơi có quyền lực một giang sơn rộng lớn, rơi xuống Sở Vương không nhiều  quyền lực, rồi bị  mưu giả vờđi chơi đầm Vân Mộng, bắt trói rồi lại tha, giáng xuống hai tước còn Hoài Âm Hầu.  Hán Vương nghe lời Trần Bình không thểđem quân đến bắt Hàn Tín, vì quân Hán Vương đánh không lại Hàn Tín, và đẩy Hàn Tín vào thế làm phản, trong thế yếu bị tước hết quyền lực. Hàn Tín đã chua cay khi thấy mình ngang hàng với Phàn Khoái với  hai tướng Chu Bột , Quán Anh. Cuối cùng nhân loạn Trần Hy lấy cớ Hàn Tín thông đồng với Trần Hy, việc thông đồng với Trần Hy chỉ là bức thư ngụy tạo không có bằng cớ rõ ràng chi cả. Lưu Bang đã để cho vợ là Lữ Hậu ra tay tru di tam tộc và phân thây xé thịt. Xưa nay những  Đệ nhất công thần thường bị rơi vào hoàn cảnh như Hàn Tín. Từ Văn Chủng đối với Việt Vương Câu Tiển đến Lâm Bưu đối với Mạo Trạch Đông. Tại nước ta triều Lê: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn không thoát khỏi. Triều Nguyễn theo phò vua Gia Long từ thuở  khởi nghiệp một danh sách dài  các công thần  từ Đỗ Thành Nhân, đến Trung quân Nguyễn Văn Thành thống lĩnh toàn quân đội, Binh Bộ Thượng thưĐặng Trần Thường,  Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển (chồng Hồ Xuân Hương) không thoát khỏi số phận tương tự.
 
Vua Trần Anh Tông (1276-1320) tên húy Trần Thuyên có viết một bài thơ về Hán Cao Tổ Lưu Bang. Nhà vua vì lòng trung quân đã bênh vực Hán Cao Tổ, nhà vua cho rằng không phải Cao Tổơn đức bạc, mà do Hàn Tín, Bành Việt tự hại mình .
 
HÁN CAO TỔ
 
Pha Tần, diệt Hạng cứu sinh linh,
 
Sai khiến anh hùng nghiệp lớn thành.
 
Đâu phải nhà vua ơn đức bạc,
 
Hàn, Bành làm chết lấy Hàn , Bành.
 
Bản dịch Nguyễn Đổng Chi
 
Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
 
HÁN CAO TỔ
 
Tru Tần diệt Hạng cứu sinh linh,
 
Giá ngự anh hùng đại nghiệp thành.
 
Bất thị Cao Hoàng ân đức bạc,
 
Hàn, Bành chung tự khí Hàn Bành.
 
 
 
Tiến sĩ PHẠM TRỌNG CHÁNH
Tham quan ảo 3D
Nghiên cứu - Thảo luận

Tìm hiểu Kim Vân Kiều tân truyện ở Thư viện Vương quốc Anh

Trước đây 20 năm, Kim Vân Kiều tân truyện (còn gọi là Kim Vân Kiều hội bản) đã được giáo sư Nguyễn Văn Hoàn(1) và giáo sư Trần Nghĩa(2) giới thiệu sơ qua hoặc kỹ hơn chút ít. Bản này được đánh giá là “bản Kiều quý”, “chưa có ở nước ta”, tuy nhiên chưa ai đi sâu tìm hiểu. Điều đặc biệt ở bản này là có 146 trang thì trang nào cũng có một tranh minh họa chiếm nửa dưới trang, nửa trên dành in lời Tiểu dẫn (trang 2), một đoạn Truyện Kiều, chú thích bằng chữ Hán và lời tóm tắt bằng chữ Nôm nội dung đoạn Truyện Kiều đó. Sách không ghi tên tác giả cùng năm, nơi ra đời, chỉ thấy “trang bìa trong của sách có ghi mấy chữ tiếng Ý, viết bằng bút sắt ‘Anno 1894’; trang cuối sách ghi dòng chữ tiếng Pháp, cũng viết bằng bút sắt: ‘Paul Pelliot, acheté 432 Fr, Porte Sully, Juin 1929, No 518’. Nếu những ghi chép trên đây là chính xác thì các bản vẽ được hoàn thành vào năm 1894; đến năm 1929, Paul Pelliot, một học giả người Pháp mua được và cuối cùng, sách được nhập vào kho Thư viện Vương quốc Anh”(3). Có điều, tranh minh họa thì tôi cảm thấy có phần ngờ do người Trung Quốc vẽ.

Xem tiếp
Di sản văn hóa

Thư viện phim tư liệu

Bộ đếm lượt truy cập

di tich Nguyen Du

Liên kết Website

Bản quyền © 2015 Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa thế giới - Ban quản lý khu di tích Nguyễn Du.
Địa chỉ: Xã Tiên Điền - huyện Nghi Xuân - Tỉnh Hà Tĩnh.
ĐT: 02393 826 599        Đăng ký tham quan: 02393 825 133
Email: [email protected]
Chịu trách nhiệm nội dung: Ban quản lý khu di tích Nguyễn Du
Nêu rõ nguồn nguyendu.org.vn khi đăng bài từ website này.